February 2010
7 posts
Tháng Giêng là tháng ăn chơi. Ngoài một số lễ hội đã quá nổi tiếng như Lễ hội chùa Hương (từ 6/1(AL), Hội Lim (từ 13-15/1), chợ Viềng Nam Định (7-8/1), bà Chúa Kho (14/1)… vẫn còn rất nhiều lễ hội khác, không kém phần độc đáo. Mỗi năm có khoảng 9.000 lễ hội lớn nhỏ các loại, 80% số này là các lễ hội dân gian và đa số là diễn ra vào mùa Xuân. Hãy chọn cho mình một vài lễ hội trong những lễ hội dưới dây để khởi hành cho những chuyến du Xuân mới mẻ này.
- Lễ hội Cổ Loa (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội) khai mạc từ hôm nay (6/1) và sẽ kéo dài đến 16/1. Đây là lễ hội tưởng nhớ An Dương Vương có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa. Hội có nhiều nghi thức và trò chơi như rước kỳ mục tế thần của 12 xóm, trò đánh đu, cờ người, hát chèo…
- Hội đền Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội) thờ Thánh Gióng diễn ra từ mùng 6 - 8/1, trong đó có một màn độc đáo là lễ rước voi của nhân dân thôn Dược Thượng, xã Tiên Dược (Sóc Sơn). Năm nay, lễ hội hứa hẹn sẽ vui hơn khi tượng đài Thánh Gióng đặt trên đỉnh núi Sóc đã được khởi công và sẽ khánh thành kịp 1.000 năm Thăng Long.
- Lễ hội Yên Tử (Quảng Ninh) sẽ khai mạc vào mùng 10/1 và kéo dài trong 3 tháng mùa Xuân. Lễ hội là cuộc hành hương của hàng vạn người đến với đỉnh cao nhất của Yên Tử - chùa Ðồng.
- Hội đánh phết Hiền Quan (Tam Nông, Phú Thọ) diễn ra từ 12 đến 13/1 là lễ hội tưởng nhớ công chúa Thiều Hoa, nữ tướng của Hai Bà Trưng. Tương truyền tục này có từ thời bà Thiều Hoa dạy quân lính và dân làng chơi phết để rèn luyện tinh thần thượng võ. Quả phết tròn đẽo gọt bằng gốc tre được chủ tế hoặc ông từ đưa lên cúng trên hương án đình làng sau đó đưa ra bãi hội đặt xuống hố. Trai đinh hai làng được chia hai phe dùng gậy gốc tre có khoèo, khoèo ngoắc quả phết lên khỏi lỗ rồi hai bên xông vào cướp trong tiếng trống rền và dân làng hò reo rung động trời đất.
- Lễ hội chọi trâu Hải Lựu (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) diễn ra từ 16-17/1. Đây là một trong những lễ hội văn hóa dân gian cổ xưa nhất (tương truyền có từ thời Hùng Vương) còn lưu giữ được dáng vẻ nguyên sơ, không có những toan tính cay cú ăn thua của con người, không có việc trâu bị tiêm thuốc kích thích, không có cá cược…
- Hội vật võ Liễu Đôi (xã Liêm Túc, Thanh Liêm, Hà Nam) diễn ra từ 5-10/1, thờ ông thánh hộ Đoàn, ông tổ vật võ của làng. Nghi thức có lễ rước thánh, lễ trao gươm, múa cờ tụ nghĩa…
- Hội đền Và (Sơn Tây, Hà Nội, gần làng cổ Đường Lâm) diễn ra vào ngày 15/1, là lễ hội tưởng nhớ Tản Viên Sơn Thánh. Hội có rước thần, tế thần, lễ hội đánh cá trên sông Tích…
- Hội đình Thổ Tang (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) diễn ra từ 14- 23/1 tưởng niệm Hổ Lâm Lầu, người có công chống giặc Minh. Hội có thi lợn, dưa hấu và các trò diễn xướng dân gian. Theo tục lệ, dân làng phải kén giống và nuôi lợn sao cho thật béo để đem đi tế thần.
Những con lợn này, thường được gọi là ông Ðô, dài trên một thước, béo mập, đều là loại lợn đen tuyền, ông Ðô nào chỉ có một chiếc lông trắng cũng bị loại.
- Hội Thổ Hà (xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang) diễn ra từ 21-22/1 có rước xách, tế lễ, đấu vật, chọi gà và đặc biệt là hát quan họ. Thổ Hà được coi là một trong những làng quan họ gốc của tỉnh Bắc Giang, cho nên trong thời gian diễn ra lễ hội, ngoài trích diễn các tích
tuồng cổ, quan họ từ nhiều nơi trong vùng cũng về tề tựu ca hát. Có lẽ cũng từ nét độc đáo đó mà lễ hội Thổ Hà còn được gọi là hội “đến hẹn lại lên”.
- Hội hoa Vị Khê: diễn ra từ 20-30/1 tại Vị Khê là nơi trồng hoa truyền thống lâu đời. Hội giới thiệu hoa, cây cảnh và có các trò vui như vật, chạy thi, biểu diễn nghệ thuật…
- Hội đền Bắc Lệ (Hữu Lũng, Lạng Sơn) diễn ra từ đầu tháng Giêng đến giữa tháng Hai. Chúa Bắc Lệ là bà chúa cai quản rừng xanh, một trong những vị thần của Đạo Mẫu, do đó có nhiều hoạt động lễ bái, lên đồng…
copy từ Hanoi Corner Pool (flickr)
Tòa soạn bổn báo mới đưa ra 1 quy định rất… rân chí, đó là nghiêm cấm dùng các từ ngữ vớ vẩn, bạo lực, rẻ tiền như “hotboy”, “hotgirl”, “sex”… trên mẹt báo.
Vậy người nông dân chúng ta phải làm gì??
Dưới đây là kết quả của trí tuệ tập thể, hy vọng có thể tạo ra 1 cuộc cách mạng về ngôn ngữ báo chí :D
- “hotboy”, “hotgirl” <— từ giờ viết thành “trai nóng”, “gái nóng”
- “hiếp dâm tập thể” <— đồng loạt thực hiện hành vi giao hợp không đồng thuận
- “xả súng hàng loạt” <— liên tục bóp cò làm chết nhiều người
- “làm tình”, “sex” <— thực hiện hành vi giới tính không vì mục đích sinh sản
- “lộ hàng” <— để hở cơ quan sinh sản một cách thiếu mỹ quan - .v.v. :D
* Phần 2 (khi rảnh) sẽ viết về uyển ngữ thật trong ngôn ngữ BCVN hiện nay.
** Uyển ngữ: cách nói tránh
Copy từ blog của Chipiago
Dạo này thấy nhiều bạn chia sẻ một số kinh nghiệm xin việc rất nguy hiểm, một số thì tự tin thái quá, một số thì lại không biết một người tuyển dụng cần gì ở người xin việc. Bạn cần phải nhớ là công ty và bạn có rất ít thông tin về nhau, kinh tế học gọi là “bất đối xứng thông tin” trên thị trường lao động. Và dưới đây là 1 số biểu hiện tai hại từ phía người kiếm việc.
1. Lương cao là thể hiện giá trị bản thân
Chỉ bạn mới nghĩ như vậy thôi, người tuyển dụng bạn không nghĩ như vậy. Công ty không lên ngân sách lương cho riêng từng cá nhân. Thực tế thì với mỗi vị trí, công ty đã áng chừng một mức chi phí cho công việc đó rồi. Nó dựa trên mức độ cần thiết của công việc. Nếu công ty tìm một lập trình viên với dự kiến lương 500$, thì thường là bạn sẽ bị loại khi yêu cầu 700$. Nếu muốn thể hiện giá trị bản thân, hãy cho cty thấy những thành công đã từng đạt được hay các cơ hội làm việc khác tốt như thế nào mà bạn đã ko nhận vì 1 lý do khách quan nào đó ;)
2. Hãy trả lương cho tôi cao, công ty sẽ nhận được chất lượng công việc cao
Điều này cũng ko liên quan nốt, vì 2 lý do: - Thực tế là quan niệm về chất lượng cv của bạn và công ty thường là khác nhau. Có thể bạn đang tự hào về một thứ mà công ty coi nó là bình thường - Lương cũng là 1 loại giá cả, quyết định bởi cung & cầu. Trong đa số các ngành nghề, cung lao động lớn hơn cầu, công ty vẫn hoàn toàn có thể tìm các UCV khác mà ko phải đáp ứng mức lương bạn đưa ra.
3. Lương cứng thấp, lương mềm theo hiệu quả công việc
Nghe thì hợp lý đấy, nhưng nó chỉ phù hợp cho những công việc có tính tự chủ cao hoặc ra tiền trực tiếp, công ty có thể ước tính được. Còn lại thì công ty thích những UCV cho biết muốn tổng thu nhập là cụ thể bao nhiêu hơn. Đây ko phải là chuyện cty muốn bóc lột bạn. Mà về phía công ty, nó đơn giản cho việc tính toán quỹ lương và loại bớt rủi ro về mất kiểm soát chi phí cũng như tâm lý ràng buộc trách nhiệm, hơn nữa đề nghị này của bạn cũng sẽ khiến công ty có cảm giác bị bạn “bóc lột” lại. Do vậy, khi chưa chuẩn bị đầy đủ những lý do hợp lý thì hãy thận trọng khi đàm phán về cách tính thu nhập này. Có một điều chắc chắn là: Nếu level bạn đủ cao, bạn yên tâm, người ta đã MỜI bạn làm việc, chứ bạn ko phải đi kiếm việc. Còn nếu bạn chưa, hoặc tài năng chưa có cơ hội phát lộ, thì biết rằng cty quan tâm đến sự hiểu biết, yêu thích công việc và những giá trị mà bạn có thể mang lại cho công ty sẽ là 1 lợi thế ko nhỏ đấy.
Posted by Chipiago at 6:34 PM
Đôi lời: Các dòng văn vần tạm gọi là “thơ trào phúng” mà tác giả ký tên tắt: nqhu72 – đã phần nào nói lên tâm trạng quyết chiến giành giật các giải thưởng, huy chương, huy hiệu, tước hiệu… mà phần lớn các tay máy phía Nam lao vào như thiêu thân, đánh mất bản thân mình, nhận về chính mình một khối u uất cay đắng. ĐÂY CHÍNH LÀ MỘT PHẦN CÁC BẠN ẢNH TRẺ HẾT SỨC LƯU TÂM, CŨNG CHÍNH LÀ: DÒNG ẢNH SỐ 3, DML ĐỀ CẬP TRONG GHI CHÉP: “NHIẾP KHẨU GIA SỐ 1 PHÍA BẮC”
Thơ trào phúng về Nhiếp Ảnh
Tác giả: nqhu72
…….
Hội ta cứ mãi chèm-nhèm,
Bẩn như cám sú pha hèm mỗi hôm …
Đầy lủ “sỉ” lôm-côm lúc-nhúc
Như cá tra giành-giựt mọi ngày …
Sặc mùi nghệ-sỉ bậc thầy
Miệng loa mép dãi, lưỡi dài hơn râu …
Bài vọng-cổ sáu câu ra-rả:
-Một : giấu nghề, phùng má xưng danh
Tự-hào tài “nghệ” ngon-lành
Còn xem thiên-hạ đếch thằng nào hay.
-Hai: bệnh tự phô-bày “hàng hiệu”
Chơi Nikon ra điệu dân sành.
Hàng “for” dù xịn rành-rành
“Sỉ” chê hàng “lụi”, đ. thằng nào mua !
-Ba: trong lớp, thầy “rù” bán máy
“Thuốc” học trò để lấy phần trăm,
Dù cho “hàng luộc” tanh-bành
Thầy kêu “nét cứng”, là dành nhau mua.
-Bốn: chen-chúc thi-đua dự giải
Hốt huy-chương để lấy VAPA
Quý-ông cho tới quý-bà
“Lên nòng” chiến-đấu tỏ ra dân “Pro”.
-Năm: người mẫu, studio, dàn-dựng,
Áo đỏ, xanh theo “mửng” thầy đưa
“Dợt” em mọi kiểu chẳng chừa
Bờ tre, bụi chuối, gốc dừa… mọi nơi.
-Sáu : “đạo ảnh” mà “chơi” đồng
nghiệp
“Tội Tổ-Tông” sách chép rành-rành…
(*Theo lịch-sử nhiếp-ảnh, ông tổ Niépce bị Daguerre cướp công trong phát minh ngành ảnh)
Chẳng còn tình-nghĩa em anh
Làm “photo tặc” nổi-danh một thời.
Nghe tới đó, ôi-thôi! lợm giọng
Biết chắc ông cũng ngọng như tôi,
Tức hôm ông mất vừa rồi
Chúng còn giả khóc, bịa lời tiếc-thương
Lúc ông sống, chúng gườm chúng ghét
Ong mất đi, chúng thiệt hả-hê.
Khóc chơi rồi xách đít về,
Hồn ông ấm-ức ê-chề, mặc ông.
Khi còn sống ai không lầm-lỗi?
Đậy nắp hòm, tội-lỗi xóa đi.
Lỗi ông, để bụng làm gì ?
Tiếc rằng hậu-quả nó thì quá ghê:
Ong lúc trước, chẳng nghe cảnh-báo
Nuôi ong trong tay áo của mình
Chúng tu thành quỷ, thành tinh
Chơi trò “phản chủ” đâm mình sau lưng.
Thằng rải giấy để tung xuyên-tạc
Gây bất an, xấu mặt anh em,
Bon-chen chưa đã bụng thèm
Triệt từng đồng-nghiệp, gây thêm bất hòa.
Rồi nổi máu Đào-Hoa “sung độ”
Cơn “ngứa nghề” , “tồn” sợ “héo” đi,
Ngửa lưng cầu-viện Bắc-Kỳ,
“Rước voi” nghệ-sỉ dí đì mặt ông…
Thương ông bịnh, sức không chống trả,
“Dứt-điểm” ông, họ đã đưa ra
“Tống ôn Nghệ-sỉ” , (gọi là:
“Hội-Đồng Tang-Lễ”) ,tỏ ra nghĩa-tình.
Lớp-lang cả đội-hình cụp-lạc,
Đủ chức-danh, nhân-vật hẳn-hoi.
Tận răng đạo-cụ “đồ-chơi”
Máy to, máy nhỏ để ngồi “canh-me”
Khách đủ hạng đi về xoành-xoạch
Giống như ngày đắt khách studio,
Cứ theo lý-thuyết thầy cho,
60/5.6 mà “phơ “ thả dàn.
Đêm Hàn-thực chẳng bằng một gốc !
Ngày Nguyên-Tiêu đã trót thua xa !
Long-lanh đèn flash kêu sa,
Hơn ngày họp mặt ông bà “đồng-hương”
Nghĩ màtức vừa thương chủ tịch
Đã một thời nắm trịch cầm cân.
Sinh tiền, chúng ám-hại dần,
Mất rồi, chúng lại dựng-dàn như mơ.
Đúng sách vở photo ông dạy,
Ý-tưởng sao bóng-bẩy thật hay,
Tránh nhìn tiêu-cực (theo bài),
Chọn “view” tích-cực, chờ ngày dự thi…
Sao không mở cuộc thi “Anh (-sáng) đẹp”?
“Anh đám-ma” đôi việc một công !
Ngó hình nghệ “sởi” chất-chồng,
Ansel mất vía, Bresson giật-mình…
Chức ông đó, thằng rình thằng chực,
Ghế ông đây, đứa giựt đứa dành.
Ngồi mơ tột đỉnh công danh,
Vổ mông tự đắc, tung-hoành một phương.
Vì “nghệ-sĩ “ , triệt luôn đồng-chí,
Bởi huy chương, mà thí anh-em,
Tôi nay: hoạt động âm-thầm
Đ. ham nghệ-sỉ, yên-tâm mọi bề.
Ai thắc-mắc vấn-đề này nọ,
Dấu nghề chi cho khổ cái thân?
Khỏi lo “táo-bón tinh-thần”
Chết mang đi cũng chẳng cần-thiết chi.
Tìm bằng-hữu mà đi trau-đổi,
Truyền-bá nhau cho khỏi “ngu dân”,
Mở-mang tiến-hóa dần-dần,
Cùng nhau tranh-đấu canh-tân một lòng…
Dẹp thi-cử, lối-mòn dàn-dựng,
Nổ làm chi ! thử đứng nghĩ coi:
Làm sao tác-phẩm sống đời?
Làm sao ý-tưởng mọi người nể-nang?
Ong, tác-phẩm không bằng kẻ khác,
Lúc qua đời, có cách để danh:
Trối-trăn tặng viện bảo-tàng
Đồ-nghề, kỷ-vật để thành của công.
Mong đồng-nghiệp cùng dòng suy-nghĩ
“Hiến” hết đi, úm kỹ làm gì?
Chết rồi “của quý” vất đi,
Cầm ra Lê Lợi họ chê “hết xài”.
Giấy chứng-nhận, ve-chai xé sạch,
Đống huy-chương, thợ bạc còn chê …
Nghệ-sĩ nhiếp-ảnh ngày nay.
Tặng anh em Nhiếp ảnh đọc giải-trí, mục-đích châm-biếm những “sỉ” lợi-dụng “nghệ” loè thiên-hạ.
(bài 1)
Ảnh tác-giả: đầu nhìn chênh-chếch
Mấy “body”, đeo hết trên mình.
“Photo artist“ tài danh,
Rửa hình giá “thợ”, bán hình giá “Tây”.
Đi sáng-tác rày đây mai đó,
Dàn-dựng theo sách-vở rõ-ràng:
Bà già: miệng móm, vú nhăn,
Ong già: rụng hết sạch răng, râu dài,
Lựa thiếu-nữ: mình dây, tươi-mát,
Chọn trẻ-con: cặp mắt đứng tròng,
Sáu-mươi, năm-sáu (60/ 5.6) cho thông
Gối đầu chổ tối, cho phông xóa mờ
Chọn áo đỏ, hay đồ sặc-sỡ,
Xoay polar hết cỡ: xanh trời.
Đánh dư một khẩu: màu tươi (!?)
“Nhá” thêm tý flash, mặt thời sáng lên !
Chụp ngược sáng, “rực”ven đường tóc.
Xóa chân lông, “trùm” soft filter…
Mấy dòng lý-thuyết sờ-sờ
Tay ngang cũng hiểu sơ-sơ đủ dùng.
Sách học thầy, thuộc-lòng cho vững,
Máy mua thầy, bấm bụng đừng rên,
“Của” thầy hàng hiệu, đắt tiền
“Canh me” được giá, thầy liền bán đi (!)
Lúc trả giá, thầy “đì ” hết cỡ,
Thiếu chịu tiền, thầy nợ thả ga.
Thương dân bán máy gần xa,
Kẹt tiền, chôn vốn, “lỗ ta, lời thầy”.
Trò thắc-mắc tìm thầy, năn-nỉ,
Thầy giấu nghề, trò nghĩ thầy ngon.
Mời thầy đi nhậu chục lon,
Thầy “cương”, thầy “rặn” vài dòng tuyệt-chiêu.
“Phút kinh-hoàng” ít nhiều cũng bị,
“Cảnh tật mang” ai nghĩ chữ “ngờ”.
Tin thầy , một đám “nghệ tơ”
Trúng lời đường-mật, ngây-thơ theo thầy!
“Phần trăm” đó, bụm tay thầy hốt,
“Hàng lụi” đây, trò khóc “ôm sô”
Bao nhiêu vốn-liếng đổ vô,
Bị bả “thầy thuốc”, bể sô, nát lòng…
Đây! Công-thức cho ông chụp “đám”:
FM2, hai-tám tám-lăm (28-85)
Film Pro (hay thứ hai trăm),
Kèm theo đèn Metz, chắc ăn mười phần.
Phông, dù, kính “Cô-canh” (Cokin) vài miếng,
Nhớ đừng quên thủ kiếng polar!
Thủ giò ba cẳng phòng xa,
Arica đủ để mà phô-trương…
Muốn thành “nghệ“, trăm đường “nâng-cấp”
Mong lên “pro”, vạn cách “đầu-tư”
“Bô”to*, “Bô ” nhỏ ** có dư , (*Body máy lớn;** body máy 24x36)
Nòng dài, “phi” bự , còn chưa thỏa lòng,
Hàng đủ loại: Chinon, Sig (Sigma), Tok (tokina)
Minolta, Rì-Cốc (Ricoh) , Tamron,
O-lem (Olymus), Pentax, Canon,
Nhu cầu nghệ sĩ: Nikon tràn về.
Theo tiêu-chuẩn: ED -AF
(Phải đời “D” ! ), đèn “dập” SB,
Monopod tiện mọi bề,
Bogen ba cẳng, chẳng hề sợ thua!
Canh thời-tiết, “mây-mưa” bất-tử
Liếc đồng-hồ, đón cử chạy “sô”
Nắng to, nắng cực, chạy vô,
Mưa dầm, mưa ngủ, thôi, chờ ngày mai…
“Đạn” đầy túi, “bắn” hoài chưa hết,
“Bóp” ra-phan, không tiếc dịp may,
“Dợt” cho người mẫu ngất-ngây,
Mỗi em một ít, cả ngày lói-le (le-lói).
“Anh nhớ đời” chụp “phê” mới có
“Hàng dự thi” ém khổ vô-vàn!
Như mèo dấu cứt không bằng,
Bị ai “đạo” ý, ruột oằn chín cơn.
Thèm nổi-tiếng, quyết ôm giải nhất
Vét huy-chương về chất chật nhà (!?),
Máy thầy, tiền vợ, phúc ta,
“Líp-ga” sáng-tác để mà dự thi.
“Đại-trà” gởi ảnh đi, đừng ngại !
“Biết ý” người, dỡ phải thành hay.
Thông-thường, giám-khảo Tấn Tài
Bà Đào Hoa Nữ, thêm ngài Trần Thăng
Đồng Đức Thành, Thu An, Nguyễn Thịnh,
Nguyễn Mạnh Sinh, Phạm Kỉnh, Minh Trường…
Lòng-vòng mấy vị không hơn,
Ý-đồ giám khảo, “quen” đường mà phăng.
Nhìn giám-khảo công-bằng hết biết
Lúc chấm thi quả thiệt kỹ-càng,
Duyệt qua các ảnh mấy lần,
“Quăng tiền” cho điểm, rõ-ràng công-khai !
Lật lưng ảnh, xem ai cho biết,
Đánh rớt lầm thì thiệt người ta,
Trước khi danh-sách đưa ra,
Xào qua xáo lại, bàn qua nhiều lần.
Cuộc chấm ảnh công-bằng như thế,
Tức làm sao, có kẻ chê-bai,
Nào là giám-khảo bất tài,
Nào là tham-nhũng, có ngài “đi đêm”.
Sao bọn nó tỵ-hiềm xuyên-tạc?
Lại đồn nhau, bày-đặt linh-tinh…
Cho nên giám-khảo tức mình,
Bày trò “Giám-khảo đem hình dự-treo”.
Thí-sinh thấy, “nòng teo”, khẩu phục,
Liệu sức mà tiếp-tục học thêm,
Bền gan, tốn bạc, tốn tiền,
Đi theo vài khóa, để lên tay nghề.
Trên thế-giới chẳng hề mà biết
Giám-khảo ta quả tuyệt chiêu thần!
Miệng mồm, mánh-khoé tuyệt luân,
Cho bầy nghệ-sĩ khỏi lần-mò ra…
Vô giải nhứt, nhì , ba, hốt bạc,
Anh dự treo gỡ-gạc tiền film,
“Rớt đài” hốt “xác” im-lìm,
Mấy trăm ảnh gửi, như tiền đổ sông.
“Gom hài-cốt”, “vận công” chơi tiếp,
Trong một năm, nhiều dịp “cồng-cua” (concours).
Cạp từng cái giải chẳng chừa,
Mình là nghệ-sĩ đ. thua thằng nào !
Kodak trúng “hầu-bao” béo-bở,
Fuji tung tài-trợ hốt tiền,
Các minilab “lên tiên”,
Thương dân nhiếp-ảnh, sạch tiền vì chơi.
Cứ dàn-dựng, tìm-tòi sáng-tác,
“Phô” đồ-nghề, lác mắt anh-em,
Đến kỳ thi nọ mà xem,
Nhìn xem giải nhứt, chửi thầm hết chê
Hình “ma đói” làm nghề “moi đá”
“Vác đá” lên nhăn cả mặt mày,
Một bầy nghệ-sĩ khổ thay!
Thua thằng “đẽo đá” dạn-dày nắng mưa.
Đường nghệ-sĩ, đi vừa mò-mẫm,
Đi ngược chiều, mắt chẳng sáng ra:
Đã quên chữ “nghệ” ở nhà
Sờ lầm chữ “sĩ”, bỏ bà ! RÕ CHƯA?
(4-2001-hiệu chỉnh 5-2002)
(Bài 2)
(xin lỗi vẫn còn bỏ sót tên nhiều vị danh tiếng)
Đam-mê ảnh, không chừa bỏ được,
Nhìn lại xem, những bước người đi
Biết bao những “nghệ” dạn-dày
Sáu mươi năm trước, đến nay mấy người?
Già nhất xóm, chỉ chơi một máy:
Võ An Ninh, “Nạn đói 45”
Văn Mùi “Suối tóc mịn-màng”,
Cao Đàm, Cao Lĩnh… thuộc đàn cha anh.
Nguyễn Ngọc Hạnh, “VN Khói lửa”
Cùng Mạnh Đan chia nửa tiếng vang,
“Ong già” Từ Chấn tung-hoành,
Da nhăn, tóc bạc, vang danh một thời…
Tre già, tất tới hồi măng mọc,
Mặc khó-khăn, mặc lúc thịnh-suy,
Đàn em tiếp gót bước đi
Quyết mang cái nghiệp, cái nghề photo.
Nguyễn Mạnh Sinh “Ghe đò-sấm sét”
Lâm Hồng Long “Gặp mặt mẹ con”
Hồng Nga, đào kép cải lương
Đỗ Ngọc “Bà Cháu”, Văn Lan “Thầy Đồ”.
Đào Hoa nữ, “Thân Cò” lặn lội
Bùi Minh Sơn, “Bến Đợi” buồn tênh.
Thi Thơ, trẻ nít tung tăng,
“Sinh, Lão, Bịnh Tử”, Đức Thành nổi danh.
Trên trăm giải, Duy Anh ôm trọn,
Thế Nhiệm (Hoàng) hiện “Bóng từ-bi”
Thạch Vân “Sức Sống” tràn-trề,
Bé Tư ngồi đón “Xuân về Đồng Hoang”
“Theo (anh) vào đời”, Thu An rậm-rực,
Xem “Đua Bò” Quang Phúc hân-hoan,
Ngọc Dân, rảo “tiệm Hội-An”
Hải Sơn, y-tế ; công-nhân, Viết Bình.
“Niềm vui” đến, Đức Minh mong-mỏi
Hồng Linh (Lê) “Chờ-đợi” mòn hơi,
Tấn Ghi “Vác đá” động trời
Ai la, ai chửi, ai cười, mặc ai…
(Hay hay dở, ngày mai sẽ biết,
Lửa thử vàng, sự-thiệt hiển-linh!)
Hàng nghìn ảnh xem hoài chẳng hết
Nếu không tên thì biết của ai?
Xì-tin (style) giống rặt một bài,
“Cụng hàng” chan-chát ngó hoài mất công!
(5-2001)
qnhu1972
Cực-Đại Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh
Nhiều bức ảnh được giải: Quen đến mức nhàm chán
(Bài đọc tham khảo thêm, in trên Báo LĐ)
Những năm qua, nhiều bức ảnh được giải thưởng trong và ngoài nước thường là chụp đồi cát Mũi Né (Bình Thuận) và những gương mặt già nua khắc khổ của đồng bào dân tộc thiểu số. Cứ thế, nhiếp ảnh Việt Nam với hai đề tài này đã trở nên quen đến nhàm chán.
Trong một lần trò chuyện tại Nhà triển lãm Hàng Bài (Hà Nội) nhân xem triển lãm ảnh về VN của nhà nhiếp ảnh nữ người Hàn Quốc Keyoung - Zachoi, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Bảo phàn nàn vì sự ít chữ trong việc đặt tên ảnh của các nhà nhiếp ảnh ta: “Cái gì cũng “vũ khúc”: Vũ khúc trong sương, vũ khúc bình minh, vũ khúc hoàng hôn…”.
Đúng thôi, họ sợ ảnh tĩnh quá, đơn điệu quá nên gán tên “vũ khúc” vào cho sống động, cho giàu tính nghệ thuật. Hoạ sĩ Đỗ Phấn thì cho rằng, sợ nhất phải xem ảnh chụp đồi cát Mũi Né hay ảnh chụp bà con dân tộc thiểu số. Tôi biết, có một bà cụ dân tộc ở Lâm Đồng được coi như “người mẫu” của làng nhiếp ảnh ta. Có bận, người ta kéo lên cả đoàn để chụp, sau đó biếu bà cụ tội nghiệp chút tiền còm hoặc thùng mỳ tôm rồi khấp khởi chờ gửi ảnh đi thi.
Đỗ Phấn đã chứng minh cho tôi rằng, hai đề tài ấy thật sự đã cũ đến nhàm chán. Anh đưa cho tôi cuốn ảnh nghệ thuật - hình ảnh quê hương VN tập 1 do Hội ảnh nghệ thuật VN xuất bản tại Sài Gòn năm 1970. Người ta đã tính rằng chỉ trong khoảng thời gian 1958 - 1963 - nghĩa là thời kỳ chiến tranh chưa vào giai đoạn cao nhất - đã khoảng 30 nhà nhiếp ảnh VN giành được hàng trăm huy chương, cúp bạc và bằng tưởng lệ qua các triển lãm, cuộc thi ảnh quốc tế.
Trong số đó, đề tài đặc biệt là đồi cát Mũi Né. Nó là địa danh ruột của các nhà nhiếp ảnh và nói như nhà nhiếp ảnh Ngô Đình Cường thi họ “còn thuộc hơn cả người dân địa phương từng thước đất của vùng biển mặn cát vàng”. Ông kết luận: “Tác phẩm đồi cát Mũi Né đã “chu du” khắp thế giới, đoạt nhiều huy chương thượng thặng cho đất nước VN mến yêu”.
Có thể nhắc đến các tay máy xuất sắc với đề tài này: Nguyễn Cao Đàm đoạt giải ở Madrid, Tây Ban Nha; Lê Anh Tài với giải Grand Prize Winner năm 1965, Khưu Từ Chấn với 2 huy chương đồng quốc tế ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Võ Văn Thạnh chiếm giải nhì tại Louvain (Bỉ) năm 1970. Và còn hàng loạt nhà nhiếp ảnh khác từ lão làng như Trần Cao Lĩnh, Nguyễn Mạnh Đan đến thế hệ sau như Nguyễn Ngọc Hạnh, Phạm Quang Phước… đều đã có những tác phẩm đẹp về vùng cát này.
Riêng đề tài về các cụ già, trẻ con người dân tộc thì xin để dịp khác. Chúng tôi chọn 2 bức ảnh chụp đồi cát Mũi Né từ gần 40 năm trước để bạn yêu nhiếp ảnh so sánh. Quả thật, dù bây giờ phương tiện kỹ thuật, máy móc có hiện đại hơn, nhưng riêng tôi, không thấy các bức ảnh chụp Mũi Né nay hay hơn. Phải chăng Mũi Né không còn đẹp đẽ, nên thơ như xưa?
Không, có lẽ chỉ vì lối chụp ảnh nghèo nàn cảm xúc, cũ kỹ về sáng tạo cùng phương thức kéo bầy đoàn và ý đồ “chuộng lạ” để nhăm nhăm kiếm giải thưởng đã mang đến một Mũi Né cũ kỹ, nhàm chán trong nhiếp ảnh VN đương đại…
(Theo LĐ)